Danh họa NGUYỄN PHAN CHÁNH

19:01 |

Nguyễn Phan Chánh (21 tháng 7 năm 1892-1984) là một danh họa trong nghệ thuật tranh lụa. Ông là người đầu tiên mang vinh quang về cho tranh lụa Việt nam.



Tiểu sử

Nguyễn Phan Chánh sinh ngày 21 tháng 7 năm 1892 tại thôn Tiền Bạt, xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà nay là phường Tân Giang, thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1922 ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Ba ở lại Huế dạy học. Năm 1925, Nguyễn Phan Chánh là sinh viên khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng học với Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Mai Trung Thứ, Công Văn Trung, Georges Khánh (điêu khăc). Năm 1928, ông bắt đầu sáng tác các tranh sơn dầu: "Mẹ bầy cho con đan len", "Hai vợ chồng người nông dân trục lúa". và cũng năm nay ông bắt đầu học vẽ trên lụa Vân Nam và đã thành công. Ông tốt nghiệp năm 1930. Năm 1931, Nguyễn Phan Chánh sáng tác tranh lụa "Chơi ô ăn quan" cùng một số họa phẩm khác như "Cô gái rửa rau", "Em bé cho chim ăn", "Lên đồng". Cũng năm này tại triển lãm Paris, Pháp một số tranh lụa của Nguyễn Phan chánh đã được Giám đốc Victor Tardieu mang về Pháp giới thiệu. Lần đầu tiên công chúng Pháp biết tranh lụa Việt Nam qua bút pháp Nguyễn Phan Chánh. Hoạ báo L'Illustration xuất bản ở Paris số Noel 1932 đã giới thiệu 4 bức tranh này của hoạ sĩ. Một số tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh đã được trưng bày ở Milan (Ý) năm 1934, ở San Francisco (Mỹ) năm 1937, ở Tokyo (Nhật Bản) năm 1940. Sau cuộc triển lãm ở Paris, hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh được coi là người đặt nền tảng cho tranh lụa hiện đại Việt Nam.
Năm 1933, ông tham gia bày tranh ở Địa ốc Ngân hàng Hà Nội và triểm lãm cá nhân lần thứ nhất ở Hà Nội. Năm 1935, ông tham gia triển lãm do Hội Chấn hưng Mỹ thuật và Kỹ nghệ (SADEAI) tổ chức lần thứ nhất tại Hà Nội. Năm 1938, ông tham gia triển lãm do SADEAI tổ chức lần thứ 2 tại Hà Nội, cũng năm nay ông tổ chức triểm lãm cá nhân lần thứ 2 tại Hà Nội với các tác phẩm tiêu biểu: "Đôi chim bồ câu", "Chăn trâu trong rừng", "Đi chợ", "Tắm cho trâu", "Đi lễ chùa". Năm 1939, tại quê ông đi vẽ ảnh "Đền làng", "Cầu ao", "Xóm Chài", "Hui thuyền", "Thuyền đánh cá", và cũng trong năm đấy Nguyễn Phan Chánh gửi sang Pháp những tranh cỡ lớn "Mùa đông đi cấy", "Chim sổ lồng", "Chị em đùa cá", "Công chúa hoa dâm bụt" cùng một số tác phẩm khác.
Sau Cách mạng tháng 8, Nguyễn Phan Chánh là Uỷ viên thường vụ Hội Văn hoá Cứu quốc của tỉnh. Trong thời gian này ông đã vẽ hình của rất nhiều các lãnh tụ và các chiến sĩ cộng sản: Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Phú. Trong chín năm tham gia kháng chiến, hoạ sĩ đã vẽ tranh tuyên truyền cổ động: "Em bé tẩm dầu", (1946), "Phá kho bom giặc" (1947), "Lội suối", (1949).
Năm 1955, Nguyễn Phan Chánh trở về Hà Nội, làm giảng viên hội hoạ Trường Đại học Mỹ thuật trong vài năm. Năm 1957, ông được bầu vào Ban Chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam khoá I. Năm 1962, ông là Đại biểu Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III.
Nguyễn Phan Chánh sáng tác tác phẩm đầu tiên về đề tài kháng chiến chống Mỹ, "Sau giờ trực chiến" (1967), tiếp đó là "Trăng tỏ" (lụa, 1968), "Chiều về tắm cho con" (1969), "Trăng lu" (lụa, 1970). Trong những ngày máy bay Mỹ ném bom Hà Nội, phòng tranh mừng hoạ sĩ 80 tuổi vẫn được mở tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, sau đó bày tại 10 Nguyễn Cảnh Chân, Hà Nội. Năm 1973, Nguyễn Phan Chánh sáng tác những tác phẩm cuối cùng về đề tài tắm: "Tiên Dung tắm", "Tiên Dung và Chử Đồng Tử", "Lội suối" và bức sau cùng là "Kiều tắm". Năm 1974, ông dự triển lãm tranh tượng về đề tài lực lượng vũ trang với tác phẩm "Sau giờ trực chiến" (lụa).
Tháng 8 và tháng 9 năm 1982, mừng thọ hoạ sĩ 90 tuổi, Bộ Văn hoá Việt Nam cùng Bộ Văn hoá Tiệp Khắc, Bộ Văn hoá Hungary tổ chức triển lãm 47 tác phẩm của các thời kỳ sáng tác của Nguyễn Phan Chánh tại Praha, Bratislava, Budapest, Bucharest. Tháng 7 năm 1983, phòng tranh Nguyễn Phan Chánh được trưng bày tại Viện Bảo tàng Phương Đông ở Moskva.
Nguyễn Phan Chánh mất năm 1984, được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch. Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Lao động hạng 3, Huân chương Lao động hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhất. Ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.

Đóng góp

Ông được coi là người chiết trung phương pháp tạo hình phương Tây và họa pháp tranh lụa phương Đông.
Trong cuộc Đấu xảo thuộc địa 1931 tại Paris những tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Phan Chánh đã gây được tiếng vang lớn. Ông được xem như một trong những họa sĩ tiêu biểu cho nền hội họa Đông Dương.
Với những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Phan Chánh được mời tham gia giảng dạy Mỹ thuật tại một số trường học, trong đó có Trường Bưởi và Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (1955). Ông đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ họa sĩ Việt Nam sau này.
Suốt cuộc đời làm nghệ thuật, Nguyễn Phan Chánh đã để lại một sự nghiệp đồ sộ với số lượng ước khoảng trên 170 tác phẩm. Ông là người đang giữ kỷ lục về số tác phẩm được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Các tác phẩm tiêu biểu
· Chơi ô ăn quan
· Lên đồng
· Em bé cho chim ăn
· Rửa rau cầu ao
· Đi cày
· Đi cấy
· Trốn tìm
· Chim sổ lồng
· Chị em đùa cá
· Trăng tỏ
· Trăng lu
· Chiều về tắm cho con
· Sau giờ trực chiến
· Bát nước giải lao
· Đi chống hạn
· Đan mây
· Bữa cơm mùa thắng lợi
· Tiên Dung và Chử Đồng Tử
Xem tiếp…

Danh họa TÔ NGỌC VÂN

19:00 |


Tô Ngọc Vân (1908-1954)


Họa sĩ Lê Lam ký họa Tô Ngọc Vân và các chữ ký của học trò ông.(Tranh bên)
Hoạ sỹ Tô Ngọc Vân với bút danh Tô Tử, Ái Mỹ sinh ngày 15/12/1908 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang.


Ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật khóa II (năm 1931). Từ năm 1931, ông cộng tác với các báo: Phong Hóa, Ngày Nay, Thanh Nghị…
Ông từng dạy học ở trường trung học Phnôm-Pênh (1935-1939) và dạy trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1939-1945).
Sau cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc.

Ngày 17/6/1954, ông hy sinh ở Đa Khê, vùng gần sát chiến trường Điện Biên Phủ. Ông được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Tranh của Tô Ngọc Vân từng được triển lãm ở Sài Gòn (1930), triển lãm ở Ba Lan, Liên Xô, Hung-ga-ri, Ru-mani…
Những tác phẩm tiêu biểu của ông:

Trước cách mạng Tháng Tám 1945: Thiếu nữ bên hoa sen (1944), Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Hai thiếu nữ và em bé (1944), Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa (1942), Buổi trưa (1936), Bên hoa (1942), Thuyền sông Hương (1935) đều là tranh sơn dầu.
Trong kháng chiến chống Pháp: Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ (1946-sơn dầu), Nghỉ đêm bên đường (sơn mài - 1948), Con trâu quả thực (ký hoạ màu nước - 1954), Hai chiến sĩ (màu nước - 1949)…
Nhập vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, Tô Ngọc Vân đã từ quan điểm nghệ thuật thuần túy chuyển sang quan điểm nghệ thuật phục vụ kháng chiến.
Những bức tranh trong kháng chiến chống Pháp của ông thể hiện điều đó. Lòng yêu nước của ông là tấm gương một nghệ sỹ chiến sỹ chân chính. Cống hiến của ông về nghệ thuật sơn dầu trước cách mạng rất có giá trị. Càng ngày thời gian càng khẳng định những bức tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân còn trẻ mãi, có sức sống lâu bền.
Ông đã ngã xuống chiến trường khi tài năng đang đầy hứa hẹn. Ông để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm trên 150 tranh và ký hoạ, nhiều bức được lưu giữ ở Viện bảo tàng Mỹ thuật, được hâm mộ cả trong và ngoài nước. Tên tuổi của Tô Ngọc Vân là niềm tự hào cho nền Mỹ thuật Việt Nam.
Một vài tác phẩm tiêu biểu của Tô Ngọc Vân
Hai thiếu nữ và em bé
Thiếu nữ bên hoa huệ
Ký họa bút chì
Bác Hồ làm việc ở chiến khu (tranh in và khắc)
Xem tiếp…

Danh họa BÙI XUÂN PHÁI

19:00 |

Bùi Xuân Phái (1 tháng 9, 1920 - 24 tháng 6, 1988) là một họa sĩ của Việt Nam, đặc biệt nổi tiếng với các tác phẩm vẽ về Phố cổ Hà Nội (Phố Phái).

Tiểu sử
Quê gốc của ông là ở làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, tỉnh Hà Đông (nay là tỉnh Hà Tây, Việt Nam). Ông tốt nghiệp khoa Hội họa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khoá 1941–1946. Tham gia kháng chiến, tham dự triển lăm nhiều nơi . Năm 1952 về Hà nội, sống tại nhà số 87 Phố Thuốc Bắc cho đến khi mất. Năm 1956-1957 giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Hà Nội. Tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm, phải đi học tập lao động trong một xưởng mộc tại Nam Định và ban giám hiệu nhà trường đă đề nghị ông phải viết đơn xin thôi không giảng dậy tại trường Mỹ thuật.
Trường phái hội họa
Bùi Xuân Phái là một trong những hoạ sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm - những người có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại.
Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, tập trung nhiều nhất vào đề tài phố cổ Hà Nội, ông được quần chúng mến mộ gọi chung là Phố Phái. Tranh phố cổ của ông đều hiện thực, cổ kính (phố cổ Hà Nội được ông vẽ từ những thập niên 50, 60, 70 nên mang đậm nét cổ kính). Các mảng mầu trên tranh Phái thường có đường viền đậm nét. Phố cổ trong tranh ông không những trở thành chính nó mà còn gần hơn với con người, từ bề mặt đến cảnh quan đều có chiều sâu bên trong. Ngắm tranh phố cổ của Phái, người xem nhận thấy họa sĩ đă gửi gắm những kỉ niệm, những hoài cảm cùng nỗi buồn man mác, tiếc nuối bâng khuân trên từng nét vẽ, như một dự báo về sự đổi thay và biến mất của nó.
Ngoài đề tài phố cổ, ông còn vẽ các đề tài khác, như : chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật...cũng đều rất thành công. Nhiều tranh của BXP đă được giải thưởng ở các cuộc triển lãm toàn quốc và thủ đô.



Ông cũng thành thạo sử dụng các chất liệu khác : bột mầu, khắc gỗ, mực nho, bút sắt. Ông đă góp phần rất lớn vào lĩnh vực minh họa báo chí và trình bày bìa sách. Ông được giải thưởng quốc tế (Lép-dích) về trình bày cuốn sách Hề chèo(1982).
Vì tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm từ năm 1957 trở đi hoạt động của ông bị hạn chế[1]. Mãi đến năm 1984 ông mới có được cuộc triển lãm cá nhân duy nhất. Cuộc triển lãm được đánh giá là thành công nhất kể từ trước đó tại Việt nam, 24 bức tranh của ông đã được khách hàng đặt mua ngay trong ngày khai mạc. Lần đầu tiên Đài truyền hình Trung ương đă dành một thời lượng lớn trong chương trình Văn học Nghệ thuật, giới thiệu cuộc đời và tác phẩm của Bùi Xuân Phái vào năm đó.
Mặc dù cuộc sống khó khăn nhưng với tình yêu nghệ thuật, khát khao được tìm và thể hiện cái đẹp dung dị đời thường bằng những nét vẽ hội hoạ, Bùi Xuân Phái đã không ngừng vẽ, sáng tạo nghệ thuật ngay cả khi không mua được vật liệu vẽ và ông đã phải tận dụng mọi chất liệu vẽ như vỏ bao thuốc lá, giấy báo… Ông cũng là hoạ sĩ đã gạt bỏ những toan tính đời thường để cho ra đời các tác phẩm dung dị, đơn giản nhưng đầy tâm tư sâu lắng.
Ông mất năm 1988 nhưng đến năm 1996 được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Xem tiếp…

Danh họa Dương Bích Liên

18:58 |

Dương Bích Liên (17 tháng 7 năm 1924 – 12 tháng 12 năm 1988) là một hoạ sĩ Việt Nam.

Xem tiếp…

Danh hoạ Pablo Picasso

18:57 |

Picasso đã dành cả cuộc đời mình cho nghệ thuật. Ông sáng tác bằng chính những ảo ảnh của mình và làm việc say mê cho đến khi qua đời ở tuổi 91. 

Xem tiếp…

Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm

18:57 |

Nguyễn Tư Nghiêm (1922) là một họa sĩ vẽ tranh sơn mài, sơn dầu và bột màu nổi tiếng. Ông là một trong bộ tứ Phái - Sáng - Liên - Nghiêm.Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm với 12 con giáp - Tin180.com (Ảnh 1)

Xem tiếp…

Danh họa thủy mặc Trương Hán Minh

18:56 |




Xem tiếp…

Danh hoạ Ivan Aivazovsky (1817-1900)

18:55 |

Ngày 17 tháng 7 năm 1817, trong cuốn sổ đăng ký khai sinh ở tại một nhà thờ địa phương của Armenia đã được điền thêm là: "con trai của Hovhanness, Gevorg Aivazian" đã được sinh ra ngày hôm đó. 

Xem tiếp…

TRƯƠNG ĐẠI THIÊN - Huyền thoại hội họa Trung Hoa

18:54 |






Ngày 10/4, giới hội họa Trung Hoa và thế giới tưởng nhớ 30 năm ngày mất của một họa sĩ lẫy lừng, mà tên tuổi, sức hút, sức lan tỏa cả về vẻ đẹp lẫn giá trị thị trường những tác phẩm của ông luôn là tâm điểm cho đến tận bây giờ: Trương Đại Thiên. Người ta gọi Trương Đại Thiên là huyền thoại, huyền thoại hội họa Trung Hoa thế kỷ 20.

Tôn trọng, học hỏi những bậc thầy đi trước
Trương Đại Thiên (phiên âm là Zhang Daqian hay Chang Dai-chien) sinh ngày 10 tháng 5 năm 1899, tại Nội Giang, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Ban đầu ông có tên là Zhang Yuan, bút danh là Daqian (Đại Thiên). Từ hồi nhỏ, Trương Đại Thiên đã được gia đình ông khuyến khích đi theo con đường hội họa. Năm 1917, ông cùng anh trai mình là Zhang Shanzi (một nghệ sĩ nổi tiếng với những bức tranh vẽ hổ) sang Kyoto, Nhật Bản nghiên cứu dệt nhuộm. Hai năm sau, Trương Đại Thiên trở về Thượng Hải để nhận được sự hướng dẫn, truyền thụ hội họa truyền thống từ hai nhà thư pháp, họa sĩ nổi tiếng thời đó là Zeng Xi và Li Ruiqing. Thông qua sự kết hợp trong khi làm việc của mình với những người thầy, Trương đã có cơ hội để tiếp xúc và nghiên cứu một số tác phẩm của các bậc thầy cổ điển một cách chi tiết. Phong cách ban đầu của ông là cố gắng để cạnh tranh với các họa sĩ có dấu ấn cá nhân mang đậm thời kỳ Minh-Thanh bao gồm Tang Yin, Chen Hongshou và Shitao. Chính ông đã tự sáng tạo ra cách vẽ rất riêng: vẽ cảnh quan thủy mặc, sơn thủy hữu tình bằng cách văng mực lên giấy. Chính nét riêng không lẫn vào đâu ấy đã làm nên một Trương Đại Thiên tên tuổi. Ngoài vẽ thư pháp, và tranh thủy mặc, Trương Đại Thiên còn khiến mọi người thán phục về khả năng sáng tác thơ ca của mình.


















Các tác phẩm của Trương Đại Thiên
Sau thành công đầu tiên ở Thượng Hải, Trương mở rộng sự nghiệp của mình lên phía bắc trong những năm 1920, khi ông trở thành một trong những nhà hoạt động trong giới văn hóa tại Bắc Kinh. Ông bắt đầu hợp tác với họa sĩ nổi tiếng thời Bắc Kinh bấy giờ Pu Tân Dư. Cả hai nổi tiếng đến mức được gọi là "Nam Trương và Bắc Pu" trong thập niên 1930.

Năm 1940, Trương Đại Thiên dẫn đầu một nhóm các nghệ sĩ đến các hang động ở Mạc Cao và Ngọc Lâm với mục đích sao chép bức tranh tường Phật giáo. Nhóm hoàn thành hơn 200 bức tranh và kinh nghiệm sau đợt đi ấy đã để lại cho ông kho lưu trữ hình ảnh tôn giáo phong phú. Tình yêu nước đối với Trương Đại Thiên thể hiện qua những bức tranh chép mà ông cùng các học trò vẽ lại từ các phiên bản cũ hơn nhằm lưu giữ những vốn văn hóa, tư liệu quý giá cho sau này đúng như cái cách khi ông bắt đầu khởi nghiệp cầm cọ vẽ. Lúc cao điểm, bộ sưu tập của ông có hàng trăm tác phẩm từ thời nhà Đường đến nhà Thanh.

Tình hình chính trị phức tạp những năm 1949-1950, khiến Trương rời Trung Quốc trong những năm 1950. Ông sống ở nhiều nơi khác nhau, bao gồm cả Mendoza (Argentina), São Paulo (Brazil), và Carmel (California, Mỹ). Cuộc gặp lịch sử với Pablo Picasso năm 1956 tại Nice, Pháp đã được xem như là một lần nghệ thuật Đông Tây được “va chạm” mà đại diện là hai tên tuổi đứng đầu ở mỗi châu lục của mình. Trương Đại Thiên mất ngày 10/5/1983 tại Đài Bắc, Đài Loan.

Sức ảnh hưởng toàn cầu
So với những tên tuổi đại thụ, cùng thời với ông như Pablo Picasso, Andy Warhol, Roy Lichtenstein, Salvador Dali,… thì Trương Đại Thiên hoàn toàn xứng đáng được xếp trong hàng ngũ ấy. Ông đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm ở các nước châu Âu và ở Mỹ và có được danh tiếng đáng kể ở nước ngoài, nên nhớ vào thời điểm ấy được nổi tiếng cả thế giới biết đến với một họa sĩ tới từ châu Á là không hề đơn giản. Đối với các nghệ sĩ Trung Quốc cả vào thời điểm ấy lẫn bây giờ, các bức tranh của ông được coi là tiêu chuẩn vàng, luôn luôn được một mức giá cao và ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng tài chính - kinh tế bây giờ. Có thời điểm, tổng số tiền mà người ta mua tranh của ông lên đến gần nửa tỷ USD. Điều ấy trực tiếp đẩy giá của các tác phẩm của những huyền thoại Piscasso, Warhol xuống dưới. Người ta gọi ông là huyền thoại âu cũng đúng, cả cuộc đời, sự nghiệp của ông có lẽ nên được dựng thành một tác phẩm điện ảnh mới có thể phác họa chân thực và tỉ mỉ nhất. Đến tận thời điểm hiện tại và sau này Trương Đại Thiên vẫn là cây đại thụ, là họa sĩ có ảnh hưởng lớn nhất đến giới họa sỹ Trung Hoa thế kỷ 20.
Xem tiếp…

ADS

cho quang cao

Lên đầu trang